Đưa hàng Việt vào Mỹ: Cuộc đấu trí ngoại giao

Vào thời điểm Việt Nam vẫn còn chịu lệnh cấm vận thương mại, việc hàng hóa “Made in Vietnam” xuất hiện trên thị trường Mỹ dường như là một điều không tưởng, theo lời kể của ông Ân, nguyên Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam.

Trong suốt thập niên 1980, Việt Nam phải đối mặt với tình trạng bao vây, cô lập, khiến cánh cửa hội nhập và hợp tác kinh tế với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới gần như đóng chặt. Chỉ sau Đại hội VI năm 1986, Việt Nam mới bắt đầu nỗ lực tìm kiếm con đường phá vỡ thế bế tắc, tập trung vào phát triển đất nước, bao gồm cả việc bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ.

Khi đó, nền kinh tế Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn, trong khi Mỹ lại là trung tâm kinh tế lớn nhất toàn cầu, đồng thời là thị trường xuất khẩu chủ lực của các nước ASEAN. Vào năm 1995, GDP của Mỹ đạt hơn 7,6 nghìn tỷ USD, trong khi con số này của Việt Nam chỉ khoảng 20,7 tỷ USD.

Quyết định bình thường hóa quan hệ ngoại giao Việt – Mỹ vào tháng 7/1995 đã mở ra những cơ hội hợp tác to lớn giữa hai nước, tuy nhiên, đây chưa phải là chìa khóa để hàng hóa Việt Nam có thể thâm nhập vào thị trường đầy tiềm năng này.

Ông Ân đã cảm nhận rất rõ điều này khi ông quay trở lại Mỹ lần thứ hai vào năm 1997, hai năm sau khi Việt Nam và Mỹ bình thường hóa quan hệ. Ông chia sẻ: “Tôi có cơ hội thực tập tại một công ty dệt may lớn ở Atlanta, quan sát cách họ vận hành và kinh doanh, nhưng vẫn chưa dám nghĩ đến viễn cảnh hàng Việt Nam sẽ được bày bán tại các trung tâm thương mại của Mỹ. Họ làm việc rất bài bản và quy mô, trong khi chúng ta lúc đó gần như là con số không.”

Vào thời điểm đó, hàng hóa Việt Nam gặp khó khăn trong việc tiếp cận thị trường Mỹ do thiếu quy chế “tối huệ quốc” (MFN). Điều này khiến hàng hóa Việt Nam phải chịu mức thuế cao, trở nên đắt đỏ và làm giảm khả năng cạnh tranh tại thị trường Mỹ.

Quy chế MFN thường được cấp thông qua tư cách thành viên của Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) hoặc Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Một phương án khác để được hưởng quy chế này là ký kết Hiệp định Thương mại Song phương (BTA) với Hoa Kỳ.

Đàm phán BTA vào thời điểm đó được xem là một bước đi chiến lược, mở ra cánh cửa vào thị trường Mỹ đầy tiềm năng cho hàng xuất khẩu của Việt Nam, đồng thời mang lại những lợi ích kinh tế to lớn cho đất nước.

Đại sứ Nguyễn Tâm Chiến, nguyên Thứ trưởng Ngoại giao và từng là Đại sứ Việt Nam tại Mỹ trong giai đoạn 2001-2007, chia sẻ: “Dù hai nước vừa mới bình thường hóa quan hệ, chúng ta đã chủ động đàm phán BTA để tạo ra một đột phá trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại.”

Ngoài những lợi ích kinh tế trực tiếp từ việc tăng cường xuất khẩu, BTA còn được kỳ vọng sẽ thu hút mạnh mẽ dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ Mỹ. Các nhà đầu tư thường tìm kiếm một thị trường ổn định và minh bạch về mặt pháp lý, do đó, một hiệp định thương mại song phương sẽ đóng vai trò như một sự đảm bảo về môi trường kinh doanh tại Việt Nam.

Việc thiết lập một thỏa thuận thương mại với Mỹ cũng mang ý nghĩa chiến lược về mặt chính trị, giúp đa dạng hóa quan hệ đối ngoại của Việt Nam và cân bằng vị thế địa chính trị trong khu vực.

Đại sứ Chiến nhấn mạnh rằng, Hiệp định BTA ký kết với Mỹ còn tạo tiền đề cho quá trình Việt Nam gia nhập WTO sau này. Ông nói: “Kết quả đàm phán với Mỹ có tính chất quyết định đối với việc Việt Nam gia nhập WTO, vì trên thực tế, các tiêu chuẩn để gia nhập WTO đều bắt nguồn từ các định chế WTO do Mỹ chi phối.”

Đại sứ Vũ Quang Minh, nguyên Thứ trưởng Ngoại giao và từng giữ chức Tham tán – Trưởng phòng Kinh tế đầu tiên của Đại sứ quán Việt Nam tại Mỹ, đánh giá: “BTA không khác gì một Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) giữa hai nước và đó là nền tảng cho tất cả các hiệp định sau này của chúng ta. Nếu không có BTA và không thể thỏa thuận được với Mỹ, thì cũng không thể có WTO.”

Tuy nhiên, không chỉ Việt Nam mong muốn thúc đẩy BTA. Đại sứ Minh cho rằng Mỹ cũng cần thị trường đang phát triển của Việt Nam, và các doanh nghiệp Mỹ cũng vậy.

Hành trình 30 năm quan hệ Việt - Mỹ. Bấm vào ảnh để xem chi tiết
30 năm quan hệ Việt – Mỹ: Nhìn lại chặng đường (Ảnh). Ảnh: Internet

Ông giải thích: “Các thị trường mới nổi có nhiều rủi ro hơn, nhưng đồng nghĩa với việc sẽ có lợi nhuận cao hơn. Và để giảm thiểu rủi ro, họ buộc phải có những hiệp định giống như BTA.”

**”Có chết trên bàn đàm phán cũng phải ký xong”**

Mặc dù cả hai bên đều có nhu cầu, nhưng điều đó không có nghĩa là quá trình đàm phán BTA sẽ diễn ra một cách dễ dàng. Việt Nam bắt đầu đàm phán BTA với Mỹ từ tháng 9/1996, nhưng đây vẫn được xem là một sân chơi quá lớn và xa lạ.

Đại sứ Chiến cho biết, đã có nhiều trở ngại lớn trong quá trình đàm phán, bao gồm sự khác biệt về trình độ kinh tế, những vết thương do chiến tranh để lại, cũng như tâm lý e ngại và đề phòng khi mở cửa quan hệ với cựu thù ở cả hai phía.

Ông Nguyễn Đình Lương, trưởng đoàn đàm phán BTA của Việt Nam, từng chia sẻ rằng quá trình đàm phán kéo dài tới 5 năm với 11 phiên, chẳng khác nào một cuộc “marathon trên dây” không có ngày nghỉ, với những thử thách căng thẳng và khó đoán.

Ông Lương cho rằng rào cản lớn nhất giữa hai bên trong quá trình đàm phán là niềm tin, vì di chứng của chiến tranh còn quá nặng nề. Cả hai bên đều có những e ngại và hoài nghi về thiện chí của nhau, đến mức Hiệp định BTA ban đầu được dự kiến ký kết tại New Zealand vào tháng 9/1999 nhưng không thành công.

Theo ông Chiến, các điều khoản trong dự thảo Hiệp định có nhiều nội dung mà nền kinh tế Việt Nam chưa đáp ứng được, như nhiều ngành dịch vụ, chính sách bảo hộ trí tuệ, chính sách cạnh tranh hay thị trường tài chính, cho thấy kinh tế vẫn là một trở ngại lớn. Ông nói: “Việt Nam lúc đó vẫn còn nặng tính bao cấp và nền kinh tế có trình độ thấp, trong khi Mỹ là nền kinh tế thị trường phát triển cao nhất.”

Trong cuốn “Chuyện nghề, chuyện nghiệp ngoại giao”, cố Phó Thủ tướng Vũ Khoan ví đàm phán giống như một “cuộc đấu trí, đấu lý” ngoại giao, đòi hỏi các nhà đàm phán Việt Nam phải “biết mình, biết người, biết thời thế và biết luật chơi”.

Ông Vũ Khoan, người giữ chức Bộ trưởng Thương mại từ tháng 1/2000, cho biết khi đàm phán BTA với Mỹ, để đảm bảo “biết người”, phái đoàn Việt Nam đã phải thuê tư vấn để giúp vận động các nhóm lợi ích ở Mỹ, vốn có mặt trong cả quốc hội, giới chính khách, doanh nghiệp và báo chí. Họ cũng tìm cách tiếp cận và xây dựng quan hệ với những người có tiếng nói.

Ông Khoan cho biết: “Cá nhân tôi đã xây dựng mối quan hệ thân tình với bà Charlene Barshefsky, Đại diện Thương mại Mỹ, còn trưởng đoàn đàm phán Nguyễn Đình Lương có quan hệ thân thiết với trưởng đoàn phía Mỹ và các thành viên trong đoàn.”

Tuy nhiên, nỗ lực đàm phán với Mỹ lúc đó cũng vấp phải một số nghi ngại từ phía Việt Nam, bởi quá trình hướng tới BTA đòi hỏi phải điều chỉnh và sửa đổi nhiều văn bản luật trong hệ thống pháp luật. Ông Lương chia sẻ: “Hầu như toàn bộ hệ thống kinh tế Việt Nam đều bị ảnh hưởng, từ thương mại, đầu tư, dịch vụ đến sở hữu trí tuệ.”

Đại sứ Vũ Quang Minh (trong cùng bên phải) tham gia lễ ký tắt Hiệp định Dệt may tại thủ đô Washington, Mỹ hồi tháng 4/2003. Ảnh: NVCC
Đại sứ Vũ Quang Minh ký Hiệp định Dệt may Việt – Mỹ, 2003. Ảnh: Internet

Theo Đại sứ Minh, điều này buộc các nhà ngoại giao phải áp dụng lý thuyết “con dao hai lưỡi”, vừa phải đàm phán với bên ngoài, vừa phải thuyết phục trong nội bộ. Ông nói: “Muốn thành công thì phải làm tốt cả hai mặt, bởi khi làm ăn với bên ngoài, mình cũng phải tính đến những ảnh hưởng tới lợi ích của các nhóm trong nước.”

Theo ông Minh, những doanh nghiệp xuất khẩu thủy hải sản, nông sản, dệt may và giày dép mong muốn thúc đẩy BTA để tiến vào thị trường Mỹ, nhưng các lĩnh vực dịch vụ như ngân hàng, viễn thông và một số ngành công nghiệp khai khoáng lại bày tỏ lo ngại về khả năng cạnh tranh trên sân nhà.

Ông nói: “Quá trình đàm phán đôi khi phải hy sinh lợi ích của thiểu số để đáp ứng nhu cầu của đa số. Nhưng khi thành công, phải sử dụng lợi nhuận thu được để bù đắp cho các nhóm đã phải hy sinh và chịu thiệt thòi.”

Đối với trưởng đoàn Nguyễn Đình Lương, những rào cản và khó khăn như vậy không phải là lý do để từ bỏ, mà là động lực để nỗ lực vượt qua. Đoàn Việt Nam đã chia thành các nhóm chuyên trách về thuế, đầu tư, sở hữu trí tuệ… để cùng nhau phân tích mọi vấn đề liên quan đến đàm phán và giải quyết mọi vướng mắc.

Ông Lương khi đó tự nhủ: “Dù có chết trên bàn đàm phán cũng phải ký xong.”

Sau rất nhiều nỗ lực, vào ngày 13/7/2000, Hiệp định Thương mại Song phương Việt – Mỹ đã được ký kết trong niềm vui vỡ òa của đoàn đàm phán. Ông Lương tâm sự: “Lúc đó, tôi cảm thấy như mình vừa cày xong một thửa ruộng, mồ hôi nhễ nhại, ngồi trên bờ rít một điếu thuốc lào, nhả khói lên trời và cười mãn nguyện.”

BTA bắt đầu có hiệu lực từ tháng 12/2001 và đã thổi một luồng gió mới vào nền kinh tế Việt Nam, với những đơn hàng thủy hải sản, đồ gỗ và dệt may đầu tiên được xuất khẩu thành công sang Mỹ, bắt đầu chinh phục thị trường hàng trăm triệu dân này.

Trên cương vị Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam kiêm Chủ tịch Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex), ông Ân đã dẫn đầu một đoàn doanh nghiệp sang Mỹ để khai trương văn phòng đại diện của công ty tại New York. Nhân cơ hội này, họ đã tổ chức một minishow để giới thiệu sản phẩm và trực tiếp tiếp xúc với các nhà nhập khẩu lớn.

Ông Ân cho biết người Mỹ “có tầm nhìn rất xa” đối với thị trường Việt Nam. Trong mắt họ, Việt Nam có tiềm năng tham gia vào chuỗi cung ứng may mặc khổng lồ. Vì vậy, triển lãm hôm đó đã có sự hiện diện của nhiều ông lớn trong ngành như Target, Limited Brand, Mast Industries và cả Hiệp hội Da giày Mỹ.

Ông Ân cho hay: “Chỉ một năm sau đó, kết quả đã thấy rõ. Xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang Mỹ từ mốc 40-45 triệu USD đã tăng vọt 20 lần lên mức 975 triệu USD vào năm 2002. Năm sau, con số này đạt mốc 1,7 tỷ USD.”

**Cuộc đụng độ đầu tiên với luật chơi của Mỹ**

Việc BTA có hiệu lực đã giúp các mặt hàng xuất khẩu mạnh nhất của Việt Nam xuất hiện ngày càng nhiều trên thị trường Mỹ. Nhưng từ đây, Việt Nam bắt đầu “chạm trán” với luật chơi của Mỹ, với các quy định khắt khe về tiêu chuẩn hàng hóa nhập khẩu vào nước này.

Vào tháng 2/2002, hơn hai tháng sau khi BTA có hiệu lực, Việt Nam đã phải đối mặt với vụ kiện chống bán phá giá đầu tiên đầy xa lạ và phức tạp. Thấy cá basa (cá tra) nhập khẩu từ Việt Nam được nhiều người tiêu dùng ở Mỹ ưa chuộng vì giá rẻ, các công ty nuôi cá ở miền nam nước này đã đệ đơn kiện lên Ủy ban Thương mại Quốc tế Mỹ (ITC).

Đại sứ Chiến cho biết, đơn kiện này ban đầu đã khiến Việt Nam rất lúng túng, thậm chí một số người còn cho rằng “đây là đòn trả đũa kinh tế của Mỹ sau khi thất bại trong chiến tranh ở Việt Nam”.

Đại sứ cho hay, trong các vụ kiện tương tự ở Mỹ, nguyên nhân chính xuất phát từ các công ty và hiệp hội tư nhân trong lĩnh vực nuôi cá. Chính phủ Mỹ không phải là bên kiện cáo, mà được xem như “quan tòa”, và nếu họ phán quyết Việt Nam bán phá giá, Mỹ sẽ áp dụng mức thuế cao hơn đối với hàng nhập khẩu từ Việt Nam để bảo vệ doanh nghiệp trong nước.

Ông Chiến giải thích rằng, nếu cá basa Việt Nam bị đánh thuế nhập khẩu cao, lợi nhuận của hàng chục vạn nông dân ở Đồng bằng sông Cửu Long sẽ giảm, số lượng cá bán được cũng sẽ giảm mạnh, thậm chí mất thị trường.

Vì quá xa lạ với vụ kiện này, ban đầu Việt Nam đã phải thuê các công ty vận động hành lang (lobby) của Mỹ để nắm bắt tình hình cụ thể, đồng thời mở một đợt vận động dư luận, đặc biệt là về mặt pháp lý, để bảo vệ lập trường của Việt Nam.

Để chứng minh giá bán cá tra là hợp lý, Việt Nam cần làm việc với rất nhiều bên, từ Bộ Thương mại Mỹ đến Hiệp hội nghề cá, cũng như gặp gỡ các nghị sĩ Mỹ liên quan, với mục tiêu là phía Mỹ hủy bỏ vụ kiện hoặc ít nhất sẽ giảm mức thuế nhập khẩu đối với Việt Nam.

Đại sứ Chiến đã cảm thấy rất khó hiểu khi được đề xuất thuê các công ty luật của Mỹ để giúp xử lý vụ kiện. Ông viết trong cuốn “Chuyện nghề, chuyện nghiệp ngoại giao”: “Sao lại thuê người Mỹ đại diện cho các công ty Việt Nam và dựa trên luật Mỹ để tranh cãi lại với chính người Mỹ, vì lợi ích của phía Việt Nam? Thật không hiểu nổi cái logic phi lý này.”

Kim ngạch thương mại Việt Nam - Mỹ qua các năm. Đồ họa: Hoàng Khánh
Thống kê kim ngạch thương mại Việt Nam – Mỹ (Biểu đồ). Ảnh: Internet

Đại sứ Vũ Quang Minh cho hay, khó khăn lớn của Việt Nam là việc chưa được Mỹ công nhận là nền kinh tế thị trường. Do đó, Mỹ sẽ chọn một nền kinh tế khác mà họ cho là “kinh tế thị trường” để làm mô hình tính chi phí thực tế đối với cá basa Việt Nam.

Bộ trưởng Thương mại Vũ Khoan (bên phải) và Đại diện thương mại Mỹ Charlene Barshefsky ký Hiệp định thương mại Việt Nam - Mỹ, tại thủ đô Washington ngày 13/7/2000. Ảnh: TTXVN
Bộ trưởng Vũ Khoan ký Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ, Washington 2000. Ảnh: Internet

Ông Minh nói: “Do đó, chúng ta phải chứng minh giá sản xuất và giá thành cá basa ở Việt Nam là phù hợp, không phải là bán phá giá. Đồng thời, chúng ta cũng phải chứng minh các công ty Việt Nam sẽ đưa ra mức giá khác nhau. Việt Nam khi đó bắt buộc phải thuê tư vấn để giúp các doanh nghiệp khai hồ sơ trình cho Mỹ.”

Đại sứ Chiến cho hay, Việt Nam đã chịu một số thiệt hại không đáng có trong vụ kiện này, một phần vì cơ chế kiện tụng của Mỹ phức tạp, và một phần vì “anh em sứ quán chúng tôi chưa thể tìm hiểu kỹ luật chơi của Mỹ”. Ông bày tỏ: “Nhưng biết làm sao khi phải thuê người Mỹ, cãi với người Mỹ, theo luật Mỹ.”

Sau vụ kiện cá basa, Việt Nam tiếp tục đối mặt với những vụ kiện bán phá giá thủy hải sản khác ở Mỹ. Tuy nhiên, kinh nghiệm từ vụ đầu tiên đã giúp Việt Nam vững vàng hơn để xử lý các vấn đề phát sinh khi làm ăn với Mỹ và các nước trên thế giới, theo lời ông Chiến.

Đại sứ nói: “Nhờ vụ kiện mà danh tiếng của con cá basa tăng lên vùn vụt, trở nên ‘lừng lẫy’. Con cá ‘râu dài’ của Việt Nam từ đó trở nên nổi tiếng khắp năm châu mà không tốn nhiều chi phí cho quảng cáo, và đến nay cá basa của ta đã có được một thị trường xuất khẩu rộng khắp với kim ngạch hàng tỷ USD mỗi năm.”

Cụm cảng Lạch Huyện, Hải Phòng, ngày 20/1. Ảnh Lê Tân
Cảng Lạch Huyện, Hải Phòng: Điểm sáng xuất khẩu Việt Nam. Ảnh: Internet

**”Hòn đá tảng” trong quan hệ Mỹ – Việt**

Mặc dù có những vấp váp trong quá trình thực thi, BTA được xem là một bước ngoặt lớn trong hành trình hội nhập kinh tế và “thay da đổi thịt” của Việt Nam trong giai đoạn đầu thế kỷ 21, đồng thời ghi dấu ấn đậm nét trong quan hệ Việt – Mỹ.

Đại sứ Chiến kể lại: “Tôi còn nhớ trong lời đáp Quốc thư trình lên Tổng thống G.W. Bush hồi tháng 10/2001 có câu ‘BTA là hòn đá tảng của quan hệ hai nước’.”

Chỉ trong một năm sau khi ký kết BTA, kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ đã tăng hơn 128%, đạt hơn 2,3 tỷ USD vào năm 2002, và sau đó tiếp tục tăng mạnh qua các năm. Mỹ hiện là thị trường xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam, và kim ngạch thương mại song phương vào năm 2024 đã đạt mức 134,6 tỷ USD.

Quan hệ Mỹ – Việt không chỉ dừng lại ở thương mại. Vào năm 2013, hai nước đã nâng cấp lên Đối tác Toàn diện, và đến năm 2023, trở thành Đối tác Chiến lược Toàn diện.

Không chỉ vậy, BTA còn đặt nền móng cho tiến trình cải cách thể chế, giúp Việt Nam tự tin bước vào WTO và tham gia vào hàng loạt các hiệp định thương mại tự do về sau.

Trong bữa tiệc chào mừng hai nước trao đổi thư phê chuẩn BTA tại thủ đô Washington, ông Vũ Khoan đã ứng khẩu một bài phát biểu, mở đầu bằng câu “đêm qua tôi có một giấc mơ”, lấy cảm hứng từ câu nói nổi tiếng của Martin Luther King, nhà hoạt động da màu đấu tranh chống phân biệt chủng tộc ở Mỹ.

Ông kể rằng ông đã mơ được mời tới dự một bữa tiệc trong một căn phòng lát đá cẩm thạch. Ông nói trong bữa tiệc: “Hỏi ra mới biết chúng được nhập từ tỉnh Thanh Hóa ở Việt Nam, và tôi mời các doanh nghiệp Việt Nam kinh doanh vật liệu xây dựng đứng lên để mọi người thấy.”

Sau đó, ông tiếp tục miêu tả món chính của bữa tiệc trong mơ là cá basa, khiến cả phòng cười ồ lên. Cứ tiếp tục như vậy, ông lần lượt nêu tên một số sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ, đồng thời mời các doanh nghiệp tương ứng đứng dậy.

Ông phát biểu một cách hóm hỉnh: “Cuối cùng, tôi nhắc tới giấc mơ được đi trên chiếc Boeing 777 cùng với nhiều bạn bè người Mỹ sang du lịch Việt Nam; khi máy bay hạ cánh xuống sân bay Nội Bài, chúng tôi được nhiều cô gái Việt Nam trong tà áo dài thướt tha đón tiếp và tặng hoa. Trong số những người ra đón, có một bà tóc bạc phơ, tôi nhận ra là vợ mình nên lập tức bừng tỉnh giấc.” Bài phát biểu có phần hài hước này rất sát với văn hóa Mỹ, gây ấn tượng đến mức nhiều người dự tiệc mỗi khi gặp ông Vũ Khoan đều nhắc lại.

Mark Newman, Phó Chủ tịch đối ngoại của Mast Industries, một trong những người bạn quý của ngành dệt may Việt Nam, cũng từng đề cập đến một giấc mơ khi gặp ông Ân tại Mỹ. Trong cuộc gặp, Newman đã nói: “Chúng ta phải mơ đến một ngày nào đó, hàng may mặc của Việt Nam sẽ đứng số một tại Mỹ.”

Và giấc mơ đó đã trở thành hiện thực vào năm 2020, khi Việt Nam trở thành nhà cung ứng hàng may mặc hàng đầu tại Mỹ với giá trị 4,8 tỷ USD, vượt qua Trung Quốc (4,6 tỷ USD), theo số liệu của Hải quan Mỹ. Ông Newman đã viết trong một email gửi cho ông Ân vào ngày 8/5/2020: “Giấc mơ của chúng ta đã thành hiện thực.”

Admin


Nguồn: VnExpress

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *