Ký ức Việt: Đồ vật xưa từ 1930-1975 gợi nhớ điều gì?

Từ những năm 1930 đến 1975, Việt Nam trải qua giai đoạn lịch sử đầy biến động với các cuộc đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ khi thành lập Đảng năm 1930, Cách mạng Tháng Tám năm 1945, kháng chiến chống Pháp, chia cắt đất nước và kết thúc bằng chiến thắng năm 1975, thống nhất non sông. Trong bối cảnh ấy, nhiều vật dụng đã gắn bó mật thiết với cuộc sống và chiến đấu của người dân, góp phần khắc họa nên hình ảnh đặc trưng của người Việt Nam.

Một trong số đó là áo tứ thân, trang phục quen thuộc của phụ nữ miền Bắc, cả ở thành thị và nông thôn, trong giai đoạn 1930-1950. Áo tứ thân có thiết kế đặc biệt với hai tà trước tách rời, thân sau ghép lại. Trang phục này thường được mặc cùng yếm đào, váy đụp hoặc quần đen, thắt lưng, khăn mỏ quạ và nón quai thao. Để thuận tiện khi làm đồng, người mặc có thể buộc hai tà áo trước lại cho gọn gàng.

Đi kèm với áo tứ thân là nón quai thao, có đường kính khoảng 70-80 cm, lợp bằng lá cọ, thành nón cao 10-12 cm. Phần trung tâm nón có một vành tròn vừa đầu gọi là khua, được làm từ những sợi tre nhỏ chuốt bóng tỉ mỉ và khâu lại bằng chỉ tơ nhiều màu sắc, đảm bảo độ cứng để chịu được sức nặng của nón. Bên cạnh nón quai thao, nón lá với hình chóp nhọn đan bằng lá cọ, rơm, tre, lá dứa hoặc lá dừa, cùng quai vải, cũng là vật dụng phổ biến. Nón lá có từ thời nhà Trần và đến nay vẫn được nhiều người sử dụng khi đi chợ, đi học hoặc làm đồng.

Tuy nhiên, sự du nhập của văn hóa phương Tây đã dần thay thế áo tứ thân bằng trang phục hiện đại. Đến những năm 1980, áo tứ thân chủ yếu chỉ còn xuất hiện trong các lễ hội. Từ những năm 1990, áo tứ thân bắt đầu trở lại trên sân khấu, trong điện ảnh và các video ca nhạc. Khoảng 10 năm trở lại đây, nhiều người thuê áo tứ thân để chụp ảnh, với giá dao động từ 60.000 đến 90.000 đồng một bộ.

Ngày nay, hình ảnh phụ nữ mặc áo tứ thân, đội nón quai thao chỉ còn thấy trong nghệ thuật dân ca quan họ, các buổi biểu diễn thời trang, ca nhạc, phim ảnh và các hoạt động quảng bá du lịch văn hóa. Nón quai thao cũng trở thành nguồn cảm hứng cho các nhà thiết kế như Thủy Nguyễn, Hoàng Minh Hà, được đưa vào các bộ sưu tập thời trang kết hợp giữa truyền thống và hiện đại. Trong hai năm gần đây, xu hướng mặc cổ phục của giới trẻ đã thúc đẩy nhiều xưởng làm nón đính thêm hoa hoặc tua rua, cho thuê hoặc bán với giá từ 350.000 đồng trở lên.

Trong khi áo tứ thân và ngũ thân phổ biến, áo dài Le Mur của họa sĩ Nguyễn Cát Tường nổi lên như một sự cách tân y phục nữ giới vào những năm 1930. Đầu xuân năm 1935, trên báo Phong Hóa, ông giải thích sự cần thiết của việc cải cách trang phục phụ nữ: “Quần áo tuy dùng để che thân thể, nhưng có thể như tấm gương phản chiếu trình độ trí thức một nước”. Ông đã cải biên áo dài ngũ thân thành áo không cổ, tay ngắn hoặc không tay, vai bồng, gấu tay loe, không cài cúc và vạt áo ngắn. Mẫu áo Âu hóa này được một số phụ nữ cấp tiến đón nhận, nhưng đến đầu những năm 1950 thì gần như biến mất. Đến tháng 11/2024, nhà thiết kế Thủy Nguyễn đã tái hiện áo Le Mur trong show thời trang “Ru hò xự xang xê cống”, mang đến nhiều mẫu áo với màu sắc rực rỡ, đường cắt táo bạo và các chi tiết hiện đại.

Bên cạnh áo tứ thân, áo dài ngũ thân cũng là trang phục phổ biến của người dân Bắc Bộ và Nam Bộ trước thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Áo ngũ thân có năm mảnh, cổ cao, thẳng và vuông, tượng trưng cho sự chính trực, mặc cùng quần dài. Bốn thân áo ngoài tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu, thân trong tượng trưng cho người mặc. Áo có năm cúc, thể hiện đạo lý làm người của người Việt: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín. Trong các dịp trang trọng, nam giới mặc áo ngũ thân với cúc làm bằng kim loại hoặc ngọc, đôi khi đội khăn vấn hoặc nón lá. Áo của phụ nữ có cổ thấp hơn, tay hẹp, vạt dài qua gối, rộng và xòe ra, mặc kèm yếm bên trong, với màu sắc và hoa văn thay đổi theo dịp.

Từ đầu thế kỷ 20 đến những năm 1970-1980, áo bà ba gắn bó với đời sống của người dân miền Bắc và Nam. Áo có thiết kế không cổ, chiết eo, xẻ tà bên hông, thường kết hợp với khăn rằn và nón lá. Tầng lớp lao động thường mặc áo màu nâu hoặc đen với quần lửng. Ngày nay, áo bà ba đã được cải tiến với chiết eo rõ hơn, cổ hình tim thay vì tròn truyền thống, tay raglan tạo phom mềm mại và hiện đại, cùng với chất liệu phong phú hơn như lụa, voan, satin, gấm thay vì vải phin nõn, vải ú, vải sơn đầm như trước đây.

Trong cuộc chiến chống Pháp, áo trấn thủ trở thành trang phục quen thuộc của bộ đội từ mùa đông năm 1947. Áo có thiết kế đơn giản, ngắn đến thắt lưng, cổ tròn, không tay, gồm hai mảnh, một bên vai cài cúc, bên trong nhồi bông và chần hình quả trám. Áo gọn gàng và giữ ấm tốt. Trong những năm kháng chiến gian khổ, khi bông khan hiếm, người ta phải dùng lông vịt hoặc vỏ cây sui đập rập, phơi khô để thay thế. Cúc và khuy cũng thiếu, nên thường dùng dây vải buộc hoặc cúc làm bằng giấy ép tẩm sơn. Đến chiến dịch Tây Bắc năm 1952, bộ đội được phát áo trấn thủ dài tay. Năm 1953, quân đội bắt đầu được trang bị quân phục thống nhất. Ngày nay, áo trấn thủ chủ yếu chỉ còn xuất hiện trong các hoạt động biểu diễn nghệ thuật, phim ảnh, hoặc được trưng bày trong các quán cà phê như một biểu tượng gợi nhớ về quá khứ hào hùng của dân tộc.

Năm 1946-1947, hành trang của người chiến sĩ chỉ có một đôi dép lốp đen và vài loại thuốc chữa bệnh. Dép lốp được xem là một sáng tạo có giá trị lịch sử, đáp ứng nhu cầu của bộ đội và người dân trong suốt thời gian kháng chiến. Dép được làm từ lốp xe ô tô, cắt thành đế, dùi lỗ để xỏ quai bằng cao su đen lấy từ săm xe. Quai dép được cố định chắc chắn vào đế mà không cần keo dính, nhờ vào độ giãn nở của cao su. Dép lốp đơn giản, bền, tiện dụng, dễ làm, dễ bảo quản và thích hợp với mọi địa hình, khí hậu. Ngày nay, dép lốp vẫn được bán như một món quà lưu niệm hoặc được giới trẻ ưa chuộng như một phong cách thời trang. Con cháu của nghệ nhân Phạm Quang Xuân, người sáng lập thương hiệu Vua dép lốp nổi tiếng ở Hà Nội, vẫn tiếp tục sản xuất và kinh doanh dép lốp ở nhiều quốc gia trên thế giới.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, mũ cối là vật dụng quen thuộc của bộ đội, thanh niên xung phong và dân quân tự vệ. Mũ không chỉ che nắng mưa, chống va đập mà còn có thể dùng để múc nước, làm ghế ngồi hoặc gác súng. Mũ cối ban đầu có tên là mũ cát, du nhập vào Việt Nam từ đầu thế kỷ 20. Năm 1956, Cục Quân nhu đề xuất sản xuất mũ giống mũ cát nhưng bền chắc hơn, gọi là mũ cối. Năm 1957, mẫu mũ cối được phê duyệt và đưa vào sản xuất. Cốt mũ làm bằng bột gỗ, ép định hình và bọc vải màu xanh lá cây để ngụy trang, có quai điều chỉnh để vừa vòng đầu. Ngày nay, mũ cối vẫn được sử dụng rộng rãi trong quân đội và dân sự, từ người lao động đến những người yêu thích phong cách thời trang độc đáo.

“Chú là chú em/ Chú đi tiền tuyến, nửa đêm chú về/ Ba lô con cóc to bè/ Mũ tai bèo bẽ vành xòe trên vai”. Chiếc ba lô con cóc xanh rêu đã đi vào thơ ca, trở thành hình ảnh quen thuộc trong những năm kháng chiến chống Mỹ. Ba lô có hình dáng giống con cóc, với phần bụng phình to, đáy rộng và phần trên thon lại, có nhiều ngăn phụ. Ba lô là “gia tài” của các chiến sĩ, đựng quần áo, tăng, võng, kim chỉ, thuốc men, sổ sách. Hiện nay, ba lô con cóc vẫn được sản xuất để sử dụng trong quân đội, đồng thời được nhiều người ưa chuộng khi đi học, đi làm, du lịch hoặc dã ngoại.

Hình ảnh anh giải phóng quân miền Nam còn gắn liền với chiếc mũ tai bèo, có vành rộng và mềm mại như cánh bèo trên sông nước. Mũ tai bèo xuất hiện từ năm 1960 và trở thành trang phục chính thức của Quân giải phóng miền Nam từ năm 1966-1967. Hiện nay, mũ tai bèo vẫn là người bạn đồng hành của các chiến sĩ. Trong làng thời trang, mũ tai bèo đã trở thành một xu hướng được giới trẻ và người nổi tiếng ưa chuộng từ năm 2014 đến nay.

Những trang phục và vật dụng đi cùng năm tháng không chỉ là những kỷ vật lịch sử mà còn là biểu tượng văn hóa, gợi nhớ về một thời kỳ gian khổ nhưng hào hùng của dân tộc, đồng thời tiếp tục được gìn giữ, phát triển và lan tỏa trong cuộc sống hiện đại.

Admin


Nguồn: VnExpress

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *