Giác mạc cô gái có hình nón bất thường

Chị Hân bị cận thị kèm loạn thị từ khi còn là sinh viên. Mắt thường xuyên ngứa và chị có thói quen dụi mắt. Tuy nhiên, chị chủ quan cho rằng đây chỉ là do bụi bẩn hoặc dị ứng thời tiết nên không đi khám. Gần đây, dù độ cận không tăng nhiều, nhưng độ loạn thị lại tăng gần gấp đôi so với lần đo trước đó hai tháng, khiến chị quyết định đi kiểm tra mắt.

Thạc sĩ, bác sĩ Dương Minh Phúc, công tác tại Trung tâm Mắt Công nghệ cao, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM, cho biết kết quả khám cho thấy mắt trái của chị Hân bị cận 5.25 độ và loạn 8 độ, thị lực không kính chỉ đạt 1/10. Mắt phải cận 1.5 độ và loạn 3.5 độ, thị lực không kính là 4/10. Bác sĩ Phúc nhận thấy giác mạc của chị Hân có dấu hiệu lồi ra bất thường nên đã chỉ định thực hiện các kiểm tra chuyên sâu về độ dày, độ cong và bản đồ giác mạc.

Kết quả cho thấy cả hai mắt của chị Hân đều mắc bệnh giác mạc chóp, đang ở giai đoạn hai và ba (giai đoạn trung bình). Bệnh này khiến giác mạc mỏng dần và lồi ra thành hình chóp thay vì hình cầu bình thường, dẫn đến hình ảnh nhìn thấy bị biến dạng và thị lực suy giảm. Hiện tại, chưa có phương pháp điều trị dứt điểm bệnh giác mạc chóp, việc điều trị chủ yếu tập trung vào kiểm soát và cải thiện thị lực nếu được phát hiện sớm và can thiệp đúng cách, nhằm ngăn chặn bệnh tiến triển nặng hơn, dẫn đến mù lòa vĩnh viễn.

Bác sĩ tắt đèn phòng mổ, tập trung nguồn sáng thực hiện điều trị giác mạc chóp cho chị Hân. Ảnh: Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh
Bác sĩ tắt đèn phòng mổ, tập trung nguồn sáng thực hiện điều trị giác mạc chóp cho chị Hân. Ảnh: Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh. Ảnh: Internet

Trong trường hợp của chị Hân, PGS.TS.BS Nguyễn Thị Thu Hiền, Trưởng khoa Khúc xạ, Trung tâm Mắt Công nghệ cao, đã chỉ định can thiệp bằng phương pháp liên kết chéo (Cross linking) kết hợp với việc chỉnh kính tiếp xúc để tăng cường độ bền chắc cho giác mạc, làm chậm quá trình tiến triển của bệnh và cải thiện thị lực.

Liệu trình điều trị được chia thành hai giai đoạn. Đầu tiên, thủ thuật Cross linking được thực hiện để tăng cường liên kết giữa các sợi collagen trong lớp mô đệm của giác mạc. Các liên kết này có vai trò như những trụ cột giúp giác mạc khỏe mạnh hơn, đảm bảo độ bền cơ học. Sau khi giác mạc đã ổn định, bệnh nhân sẽ được thử đeo kính áp tròng (kính tiếp xúc) phù hợp với tình trạng giác mạc.

Thủ thuật Cross linking điều trị giác mạc chóp cho chị Hân diễn ra trong khoảng 30 phút. Trong quá trình phẫu thuật, ánh sáng trong phòng được giảm tối đa, chỉ tập trung vào mắt bệnh nhân. Bác sĩ tiến hành điều trị từng mắt, nhỏ liên tục dung dịch riboflavin (vitamin B2) trong hai lượt. Lượt đầu nhỏ trong 4 phút, lượt thứ hai nhỏ trong 6 phút và kết hợp chiếu tia cực tím (UVA) trong 5 phút. Riboflavin là một chất nhạy sáng, đặc biệt phản ứng mạnh với tia cực tím, giúp tăng cường khả năng tạo liên kết chéo. Do chất này dễ bị phân hủy khi tiếp xúc với ánh sáng và sau khi mở bao bì, việc nhỏ thuốc cần được thực hiện chính xác về thời gian và trong điều kiện phòng tối để đạt hiệu quả tối ưu.

Kỹ thuật viên khúc xạ đang đeo thử kính tiếp xúc cho người bệnh. Ảnh: Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh
Kỹ thuật viên khúc xạ đang đeo thử kính tiếp xúc cho người bệnh. Ảnh: Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh. Ảnh: Internet

Sau một tháng, PGS.TS.BS Nguyễn Thị Thu Hiền đánh giá lại tình trạng giác mạc và chỉ định thử kính áp tròng. Thị lực của chị Hân khi đeo kính đạt 7/10 ở mắt trái và 8/10 ở mắt phải. Chị có thể đeo kính tiếp xúc vào ban ngày và tháo ra trước khi ngủ, đồng thời cần vệ sinh và bảo quản kính đúng cách để tránh làm trầy xước. Bên cạnh đó, việc theo dõi định kỳ tình trạng giác mạc, thị lực và kính tiếp xúc cũng rất quan trọng.

PGS.TS.BS Nguyễn Thị Thu Hiền cho biết sau thủ thuật Cross linking, mắt có thể cảm thấy hơi cộm nhẹ và chảy nước mắt, nhưng tình trạng này sẽ giảm dần sau 1-2 ngày. Bệnh nhân cần đeo kính bảo hộ và tránh để nước, khói bụi bẩn tiếp xúc vào mắt trong tuần đầu sau thủ thuật. Đặc biệt, bác sĩ nhấn mạnh việc tuyệt đối không được dụi mắt, vì có thể gây tổn thương giác mạc và làm bệnh trở nên nghiêm trọng hơn.

Nguyên nhân chính xác gây ra bệnh giác mạc chóp vẫn chưa được xác định rõ. Tuy nhiên, các yếu tố như di truyền, mất cân bằng nội tiết (sau tuổi dậy thì) và thói quen dụi mắt mạnh thường xuyên được xem là những nguy cơ cao. Bệnh thường xuất hiện ở người dưới 30 tuổi. Giác mạc chóp diễn tiến âm thầm, không có triệu chứng rõ ràng cho đến khi thị lực suy giảm nhanh chóng, độ cận loạn tăng nhanh hoặc việc đeo kính không cải thiện được thị lực. Trong một số trường hợp, bệnh nhân đến khám ở giai đoạn tiến triển nặng (giai đoạn 4 hoặc 5) và cần phải ghép giác mạc để tránh nguy cơ mù lòa.

Admin


Nguồn: VnExpress

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *